Bất Động Sản

Kiến trúc nhà ở truyền thống của người Việt tại Đồng Bằng sông Cửu Long

Tóm tắt

Kiến trúc nhà ở truyền thống của người Việt tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã kế thừa những giá trị tinh túy từ miền Bắc và Trung Bộ, đồng thời cũng có những nét riêng nhờ sự biến đổi linh hoạt để phù hợp với điều kiện tự nhiên và văn hóa xã hội của vùng. Nghiên cứu khảo sát thực địa đã được thực hiện nhằm ghi nhận và tái khảo sát các công trình nhà ở truyền thống, kết hợp với các cơ sở khoa học sẵn có, cho thấy những công trình này vẫn có khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu hiện tại. Thêm vào đó, việc phân tích sinh khí hậu của khu vực cho thấy trong hơn 60% thời gian trong năm, công trình đạt được sự tiện nghi nhờ vào chiến lược thông gió tự nhiên để giải nhiệt. Từ đó, các giải pháp kiến trúc nhằm đáp ứng điều kiện sinh khí hậu sẽ được xác định và làm rõ trên các đặc trưng của kiến trúc nhà ở truyền thống tại ĐBSCL. Nghiên cứu này đóng góp những thông tin hữu ích và đã được kiểm chứng cho lĩnh vực Lịch sử và Bảo tồn Kiến trúc, đồng thời giúp cho các kiến trúc sư có thể học hỏi từ những kinh nghiệm truyền thống trong việc thiết kế thích ứng với điều kiện khí hậu.

Từ khóa: Nhà ở truyền thống, người Việt, Đồng bằng sông Cửu Long, phân tích sinh khí hậu, kiến trúc thích ứng khí hậu.

Giới thiệu

Nhà ở truyền thống vùng ĐBSCL

Các công trình nhà ở truyền thống kiên cố của người Việt tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long phần lớn được xây dựng từ những năm cuối thế kỷ 19 dưới bàn tay của các nhóm thợ lành nghề đến từ miền Trung, và được sở hữu bởi các gia chủ có điều kiện kinh tế cao. Trong phạm vi nghiên cứu của bài báo này, các công trình được lựa chọn nghiên cứu là nhóm nhà ở được xây dựng theo kiểu nhà rường kiên cố, còn hiện hữu, chủ yếu tập trung ở một số khu vực Đồng bằng sông Cửu Long như Tiền Giang và Bến Tre (theo địa giới hành chính cũ). Kiến trúc của các ngôi nhà này không chỉ kế thừa những giá trị tinh túy từ kiến trúc truyền thống Bắc Bộ và Trung Bộ, mà còn biến đổi linh hoạt để phù hợp với điều kiện tự nhiên và văn hóa xã hội của địa phương. Sự kết hợp này tạo nên nét kiến trúc truyền thống đặc trưng, phản ánh sự thích nghi với môi trường sông nước, khí hậu và lối sống cộng đồng của khu vực.

Kiến trúc nhà ở truyền thống đang được tiếp cận nghiên cứu ở các khía cạnh chính bao gồm văn hóa địa phương và vật liệu – kỹ thuật xây dựng, điều kiện tự nhiên (Helena Coch, 1998). Dựa trên bối cảnh lịch sử và văn hoá, nghiên cứu của Trần Thị Quế Hà (2008) đã xác định nguồn gốc và sự phát triển của nhà ở dân gian qua các thời kỳ, chỉ ra các nét đặc trưng của kiến trúc nhà ở dân gian dân tộc Việt trong cả nước nói chung và miền Nam nói riêng. Nhóm nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuý Vi (2020) đã tổng hợp được một lượng lớn định nghĩa, thuật ngữ xây dựng – kiến trúc của nhà khung gỗ truyền thống Việt Nam, và hơn thế nữa, còn chỉ ra sự ảnh hưởng của yếu tố địa lý và văn hóa đến nhóm nội dung này. Một số các nghiên cứu chuyên sâu về kiến trúc cổ Việt Nam (Nguyễn Thị Xuân, 2023; Vũ Tam Lang, 1999) cho thấy văn hoá địa phương và vật liệu – kỹ thuật xây dựng có ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành và phát triển của kiến trúc nhà ở truyền thống Việt Nam.

Bên cạnh đó, khí hậu địa phương được xem là một trong những tác động quan trọng đến kiến trúc của các ngôi nhà truyền thống. Kiến trúc truyền thống miền Trung và miền Bắc đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nhằm tìm hiểu các chiến lược thiết kế thụ động (Le Ngoc Van Anh & Fausto Pugnaloni, 2013; Nguyễn Tiến Đức & Phạm Đức Nguyên, 2015), và rút ra bài học cho kiến trúc đương đại (Phuong Ly, Janis Birkeland, & Nur Demirbilek, 2010; Truong Nguyen Hoang Long, 2014). Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có nghiên cứu của Trương Văn Minh Riêng (2020) đã phân tích thông gió tự nhiên trong nhóm nhà ở dân gian nông thôn khu vực này, từ đó rút ra những giá trị quan trọng có thể ứng dụng vào thiết kế hiện đại. Ngoài ra, nghiên cứu của Nguyễn Thị Tâm Đan (2022) về kiến trúc trường học giai đoạn 1960-1975 đã tìm hiểu các bài học kinh nghiệm trong thiết kế thích ứng với khí hậu tại Vĩnh Long. Đây là các nghiên cứu nổi bật tập trung vào kiến trúc thích ứng với khí hậu nhằm tìm hiểu các giải pháp hiệu quả cho các loại hình công trình khác nhau.

Nhóm nhà ở kiên cố truyền thống vùng ĐBSCL cần có một nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về các giải pháp thích ứng với điều kiện khí hậu đặc trưng của khu vực. Nghiên cứu này không chỉ góp phần bảo tồn giá trị kiến trúc truyền thống mà còn hỗ trợ việc ứng dụng các bài học kinh nghiệm này vào thiết kế mới.

Điều kiện tự nhiên

Khí hậu của vùng ĐBSCL, trong đó có Vĩnh Long, có đặc trưng nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình dao động từ 26°C đến 28°C, ít có sự thay đổi lớn trong năm (Hình 1a). Độ ẩm tương đối cao từ 80% đến 85%, tăng cao vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11. Khu vực này không có mùa đông lạnh, trong năm chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa khô và mùa mưa với lượng mưa chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa hàng năm. Chế độ gió được thể hiện trong Hình 1b: Gió Mậu dịch thổi từ hướng Nam – Đông Nam từ tháng 3 đến tháng 5, gió mùa từ hướng Tây – Tây Nam thổi từ tháng 6 đến tháng 10 kèm theo mưa lớn. Từ tháng 11 đến tháng 2, gió mùa từ Bắc – Đông Bắc. Tuy nhiên, do hệ thống sông ngòi chằng chịt tại khu vực ĐBSCL nên gió từ sông thổi vào cũng được xem là nguồn gió mát chính thức cho công trình.

Biểu đồ nhiệt độ (a) và hoa gió (b) của Vĩnh Long (trích xuất từ Climate Consultant)

Hiện nay, biến đổi khí hậu đang là vấn đề cấp bách toàn cầu, với nhiệt độ trung bình tăng cao là một trong những mối lo ngại lớn nhất. Hình 2 cho thấy nhiệt độ đã tăng gần 1,5°C so với năm 1850, thời kỳ các công trình nhà ở truyền thống tại Đồng bằng sông Cửu Long được hình thành. Sự gia tăng nhiệt độ này có thể làm giảm đáng kể tiện nghi nhiệt bên trong công trình, so với điều kiện thiết kế ban đầu.

Diễn biến nhiệt độ (so với năm 1850) theo chiều hướng tăng do ảnh hưởng của con người

Nghiên cứu này phân tích sinh khí hậu của khu vực ĐBSCL. Qua đó, nghiên cứu sẽ nhận diện các đặc trưng kiến trúc góp phần giúp nhà ở truyền thống của người Việt thích nghi với điều kiện khí hậu địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu công trình

Tài liệu tham khảo

Nghiên cứu này có nguồn tham khảo được xây dựng dựa trên các công trình nghiên cứu hiện có, kết hợp với thông tin từ Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM (UAH) và các khảo sát hợp tác cùng ĐH Nữ Chiêu Hòa – Nhật Bản (2000). Đây là nguồn dữ liệu chính xác và quan trọng, đóng vai trò then chốt trong nhiều nghiên cứu cùng chủ đề về kiến trúc truyền thống tại vùng ĐBSCL.

Nghiên cứu điền dã

Nhóm nghiên cứu đã thực hiện khảo sát thực tế nhằm thu thập lại dữ liệu cần thiết về các công trình kiến trúc truyền thống. Nghiên cứu lựa chọn 5 ngôi nhà ở truyền thống kiên cố của người Việt tại Tiền Giang và Bến Tre, được xây dựng vào cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, còn giữ được những chức năng cơ bản. Các bước khảo sát bao gồm phỏng vấn chủ hộ, đo đạc kích thước, ghi nhận các thay đổi và chụp hình minh họa. Dữ liệu thu thập gồm ảnh hiện trạng công trình, kích thước để hoàn thiện bản vẽ, và thông tin từ phiếu khảo sát.

 Phân tích sinh khí hậu

Trong nghiên cứu này, chương trình Climate Consultant (phiên bản 6.0.13) do Đại học California phát triển đã được sử dụng để phân tích sinh khí hậu của khu vực. Trong cơ sở dữ liệu khí hậu hiện có, Vĩnh Long được ghi nhận là vị trí có đầy đủ dữ liệu khí hậu tổng hợp và cần thiết, đồng thời có vị trí địa lý gần Tiền Giang nhất (nơi tập trung nhiều nhà truyền thống được khảo sát). Do đó, dữ liệu khí hậu của Vĩnh Long được sử dụng để đưa vào phân tích sinh khí hậu. Nghiên cứu sử dụng mô hình tiện nghi nhiệt thích ứng cho công trình thông gió tự nhiên. Hình 3 cho thấy nếu thông gió tự nhiên cho công trình được tối ưu, người sử dụng có thể đạt được tiện nghi nhiệt lên đến 66,6% thời gian trong năm (theo trích xuất từ chương trình Climate Consultant). Từ đó các giải pháp thiết kế sinh khí hậu được đề xuất và chọn lọc phù hợp.

Biểu đồ sinh khí hậu của Vĩnh Long (trích xuất từ Climate Consultant)

Các đặc trưng của kiến trúc nhà ở truyền thống được lựa chọn và phân tích dựa trên sự tương quan với các giải pháp thiết kế sinh khí hậu. Qua quá trình phân tích, nghiên cứu đã nhận diện được những đặc trưng chủ yếu giúp nhà ở truyền thống thích ứng hiệu quả với điều kiện khí hậu đặc thù của vùng ĐBSCL.

Kết quả nghiên cứu

Phân tích sinh khí hậu từ chương trình Climate Consultant cho thấy rằng các công trình sử dụng thông gió tự nhiên với các giải pháp phù hợp có thể đạt được tiện nghi nhiệt trong 66,6% thời gian trong năm. Điều này rất quan trọng trong bối cảnh nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 1,5°C so với những năm 1850, thời kỳ các nhà ở truyền thống tại Đồng bằng sông Cửu Long được hình thành. Có thể thấy rằng các công trình này đã đạt được một mức độ tiện nghi nhất định trong suốt khoảng thời gian đó, giúp nhiều thế hệ gia chủ sống và sinh hoạt thoải mái.

Liên hệ giữa các nhóm đặc trưng kiến trúc nhà ở truyền thống vùng Đồng bằng sông Cửu Long và giải pháp thiết kế sinh khí hậu

Hơn nữa, các công trình nhà ở truyền thống này đã tồn tại qua một khoảng thời gian rất dài và phần lớn gia chủ vẫn tiếp tục sống trong những ngôi nhà này cho đến hiện tại. Điều này phần nào cho thấy tính hiệu quả của đặc điểm kiến trúc trong việc thích ứng với điều kiện khí hậu đặc thù của địa phương. Điều đáng chú ý là, mặc dù các thiết kế và xây dựng hoàn toàn dựa trên kinh nghiệm và tay nghề của thợ dân gian, nhưng các ngôi nhà này vẫn bền vững và tạo môi trường sống tốt cho người dân.

Hình 4 cho thấy có 5 nhóm đặc trưng kiến trúc có liên hệ với các giải pháp thiết kế sinh khí hậu. Trong đó, vỏ bao che công trình, thể hiện qua việc tổ chức mặt đứng, có ảnh hưởng nhất đến thiết kế kiến trúc thích nghi với điều kiện khí hậu. Các nhóm đặc trưng khác theo thứ tự ảnh hưởng giảm dần bao gồm: cấu trúc công trình, tổ chức mặt bằng và không gian chức năng, tổ chức tổng thể và cảnh quan sân vườn, nội thất và vật liệu. Mặt khác, trong các giải pháp thiết kế sinh khí hậu, hiên nhà và cấu trúc rỗng của vỏ bao che mang lại hiệu quả thông gió và tiện nghi cao nhất.

Tổ chức tổng thể và cảnh quan, sân vườn

Nhà ở truyền thống vùng ĐBSCL thường được xây dựng theo ba hướng chính: Hướng ra sông rạch (Hình 5) hoặc đường bộ để thuận tiện giao thông và đón gió, hướng Nam để đón gió mát và tránh nắng gắt. Không có quy định về hướng nhà, người dân tùy thuộc vào địa thế và điều kiện tự nhiên để lựa chọn, tối đa đón gió và ánh sáng tự nhiên (Nguyễn Xuân Hoanh, 2010). Hướng gió có thể thay đổi linh hoạt nhờ vào các công trình phụ và cây cối xung quanh nhà.

Giải pháp thiết kế sinh khí hậu trong tổ chức tổng thể và cảnh quan, sân vườn (nhà ông Lê Văn Xíu – Tiền Giang)

Thành phần tổng thể thường bao gồm: Cổng, sân trước, nhà trên, nhà dưới, vườn cây và các công trình phụ. Bố cục các thành phần này có thể phân tán hoặc hợp khối tùy thuộc vào đặc điểm không gian và mục đích sử dụng của gia đình. Cổng thường dẫn vào sân trước, tạo không gian đệm giữa cổng và nhà, giúp tăng cường thông gió ngoài nhà. Sân trước và hàng hiên là nơi đón gió và tạo bóng mát từ cây cối và mái hiên, giúp giảm nhiệt độ trước khi không khí đi vào trong nhà. Các công trình phụ như bếp, nhà vệ sinh và nhà kho thường được xây tách biệt để đảm bảo thông gió tự nhiên và tận dụng ánh sáng tốt hơn trên tổng thể.

Nhà ở truyền thống vùng ĐBSCL có không gian thoáng mát, gần gũi với thiên nhiên nhờ sân vườn rộng có ao hồ và mật độ xây dựng thấp. Hàng rào cây xanh bao quanh nhà, cây cao tán rộng thường trồng ở phía Tây để che nắng, và vườn cây ăn quả, hoa màu trồng quanh nhà giúp tạo bóng mát, giảm nhiệt độ, đồng thời tăng vẻ đẹp cảnh quan. Việc bố trí cây xanh không chỉ phục vụ sinh hoạt mà còn nâng cao tiện nghi nhiệt cho không gian sống.

Tổ chức mặt bằng và không gian kiến trúc

Mặt bằng nhà ở truyền thống vùng ĐBSCL thường có dạng hình chữ nhật với tỉ lệ từ 1:1,3 đến 1:2, tạo không gian dài và hẹp, giúp luồng gió tự nhiên dễ dàng lưu thông theo phương ngang. Hệ thống cửa ra vào và cửa sổ đối diện nhau ở hai bên nhà tối ưu hóa việc đón gió tự nhiên để làm mát. Diện tích mở cửa đón gió lớn giúp tăng hiệu quả thông gió cho công trình (Hình 6). Ngoài ra cửa sổ và cửa đi được bố trí ở các mặt của ngôi nhà để tăng cường ánh sáng tự nhiên bên trong công trình. Mái hiên vươn dài và thấp bao quanh nhà che chắn các cửa sổ và cửa đi khỏi ánh nắng trực tiếp, giúp không gian bên trong luôn mát mẻ cả ngày.

Giải pháp thiết kế sinh khí hậu trong tổ chức mặt bằng và không gian kiến trúc (nhà ông Bùi Ngọc Hưởng – Tiền Giang)

Nhà trên thường có không gian mở để tiếp khách và thờ cúng, phía sau là buồng ngủ. Không gian mở phía trước và buồng ngủ phía sau ngăn bằng vách bổ kho, vách lụa hoặc song đứng, bên trên có liên ba ô hộc giúp gió lưu thông dễ dàng bên trong công trình. Nhà dưới dùng cho sinh hoạt hàng ngày, nối liền nhà trên hoặc nằm bên cạnh. Giữa nhà trên và nhà dưới thường có khoảng sân trong giúp tăng cường thông thoáng và làm mát cho công trình, đồng thời mang lại ánh sáng tự nhiên cho không gian lân cận.

 Tổ chức mặt đứng

Nhà ở truyền thống vùng ĐBSCL cho thấy lối sống mộc mạc, hài hòa với thiên nhiên. Mặt đứng đơn giản và không cầu kỳ, giúp ngôi nhà hòa nhập vào cảnh quan xung quanh. Mái nhà được thiết kế với bốn dốc thoải và tỷ lệ mái chiếm hơn nửa tổng chiều cao ngôi nhà, giúp cho thông gió tốt hơn nhờ vào đối lưu không khí do chênh lệch chiều cao cửa sổ trệt – Khu đĩ. Mái nhà vươn dài giúp che nắng, tránh nóng, đồng thời mái nghiêng giúp thoát nước nhanh chóng trong mùa mưa và che mưa cho các khu vực như lối vào, hiên nhà (Hình 7). Nền nhà được nâng cao chống ẩm, tăng cường đón gió và giảm ảnh hưởng của lũ lụt.

Giải pháp thiết kế sinh khí hậu trong tổ chức mặt đứng (nhà ông Bùi Ngọc Hưởng – Tiền Giang)

Hiên nhà được giới hạn bởi hàng cột hiên, là khoảng đệm liên kết không gian bên trong và bên ngoài, giúp mở rộng không gian sinh hoạt, tạo bóng mát và tăng cường thông gió tự nhiên cho ngôi nhà. Khu vực hiên và sân vườn, được bao quanh bởi cây xanh, đón gió và làm mát ngôi nhà trong mùa khô, giảm thiểu sự thay đổi nhiệt độ đột ngột khi từ ngoài vào trong.

Tường bao của ngôi nhà đa phần được làm từ gỗ kiểu vách thượng song hạ bản hoặc vách song đứng, đảm bảo sự thông thoáng nhưng vẫn giữ được sự riêng tư cho không gian bên trong. Thiết kế này giúp lưu thông không khí hiệu quả, giữ cho ngôi nhà luôn mát mẻ, phù hợp với khí hậu nhiệt đới ẩm.

Hệ thống cửa đi được thiết kế tinh tế, phần trên thường là song con tiện hoặc lá sách để thông gió và lấy sáng, còn phần dưới là hạ bản chắc chắn giữ riêng tư cho không gian bên trong. Cửa trải dài khắp mặt tiền, có khả năng mở rộng không gian sử dụng, tăng cường thông gió tự nhiên.

Cấu trúc công trình

Bộ khung của nhà truyền thống không chỉ đảm bảo tính kết cấu mà còn tạo tiện nghi sinh khí hậu cho không gian sống. Điểm nổi bật đầu tiên là khung nhà định hình mái vươn xa, giảm bức xạ nhiệt từ hiên, và cấu tạo mái nhiều lớp giúp không gian dưới mái luôn mát mẻ tự nhiên. Độ vươn mái cho phép mở cửa sổ đón gió nhưng vẫn che được nắng nóng trực tiếp (Hình 8).

Giải pháp thiết kế sinh khí hậu trong cấu trúc công trình (nhà ông Lê Văn Xíu – Tiền Giang)

Bên cạnh đó, sự chênh lệch trong cao độ giữa các không gian với tỉ lệ 2,2:1 (trung bình 5,8m ở gian chính và 2,6m ở gian phụ) không chỉ biểu thị tương quan chính – phụ của các chức năng bên trong, mà còn tạo điều kiện tiện nghi cho gia chủ. Trần cao cho phép không khí nóng lên cao và thoát nhiệt nhờ độ hở của lớp mái ngói và khu đĩ. Cao độ vùng không gian chính giúp tăng chênh lệch chiều cao giữa vị trí cửa chính lấy gió và vị trí thoát khí, đảm bảo chất lượng thông gió trong điều kiện gió yếu. Ngoài ra, các yếu tố khác có thể kể đến như độ dốc mái giúp thoát nước tự nhiên tốt và bộ khung nhà đặt trên nền đất nâng cao giúp giảm ẩm cho ngôi nhà vào mùa mưa.

Nội thất và vật liệu

Trong nội thất nhà ở truyền thống, các vách lụa, vách bổ kho với liên ba, và vách song đứng phân chia không gian nhưng vẫn có độ rỗng và khoảng hở giúp thông gió tự nhiên tốt bên trong công trình. Gian thờ cúng ở trung tâm, cao ráo, thoáng đãng, kết hợp với trần cao và cửa sổ lớn có mái hiên sâu giúp tăng cường lưu thông không khí (Hình 9).

Nội thất và vật liệu trong nhà ông Bùi Ngọc Hưởng

Gỗ tự nhiên, gạch, vữa, và đá là vật liệu chính, giúp làm mát thụ động nhờ khả năng ổn định nhiệt của các bề mặt này bên trong công trình. Mái nhiều lớp và lợp ngói âm dương / vảy cá giúp chống nóng công trình và thoát nhiệt tốt, đồng thời thoát nước mưa hiệu quả.

Kết luận

Nghiên cứu cho thấy các công trình nhà ở truyền thống vùng Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều điểm thích ứng với thời tiết và khí hậu đặc thù của khu vực. Đây là một phần của nghiên cứu tổng hợp, có điểm mạnh là bao gồm khảo sát điền dã và quan sát thực tế của nhóm nghiên cứu.

Trong 5 nhóm đặc trưng kiến trúc gắn liền với thiết kế sinh khí hậu, vỏ bao che công trình có ảnh hưởng lớn nhất. Tiếp theo là cấu trúc công trình, tổ chức mặt bằng, tổng thể cảnh quan sân vườn, nội thất – vật liệu. Hiên nhà và cấu trúc rỗng của vỏ bao che giúp công trình đạt hiệu quả cao nhất trong việc thông gió và tiện nghi.

Nghiên cứu này là một đóng góp quan trọng cho bộ môn Lịch sử Kiến trúc và Bảo tồn Kiến trúc, cung cấp những thông tin quý giá và đã được ghi nhận và quan sát thực tế. Các nghiên cứu tiếp theo có thể phát triển nội dung đo đạc thực nghiệm để đối chiếu và khẳng định kết quả nghiên cứu này. Điều này giúp cho các thiết kế mới có thể học hỏi từ những kinh nghiệm truyền thống trong việc sinh sống và thích ứng với khí hậu.

TS. KTS. Lê Thị Hồ Vi, ThS. KTS. Tạ Quang Hải
ThS. KTS. Lê Nguyễn Gia An*
*Trường ĐH Kiến trúc TP. HCM


Tài liệu tham khảo
– Cục Bảo tồn Bảo tàng – Bộ Văn hoá Thông tin Việt Nam, Trường ĐH Nữ Chiêu Hoà – Nhật Bản, Bộ môn Kiến trúc – Trường ĐH Kiến trúc TP.HCM, & Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Tiền Giang (2000): Kiến trúc Nhà ở truyền thống tỉnh Tiền Giang – Phần Phiếu Điều tra Đợt 2 và Vẽ ghi 35 nhà ở tuyển chọn;
– Helena Coch. (1998). -Bioclimatism in vernacular architecture: Renewable and Sustainable Energy Reviews, 2(1-2), 67-87;
– Le Ngoc Van Anh, & Fausto Pugnaloni (2013): A study of climate adaptation of hue traditional garden house in Vietnam and the application in contemporary house. International Journal of Engineering and Technology, 5(1), 5;
– Nguyễn Thị Tâm Đan (2022): Thiết kế thích ứng với khí hậu: Bài học kinh nghiệm từ kiến trúc trường học giai đoạn 1960-1975 ở Vĩnh Long. Trường ĐH Xây dựng Miền Tây;
– Nguyễn Thị Thuý Vi, Vũ Hữu Minh, Lê Vĩnh An, Nguyễn Thanh Toản, & Phan Thuận Ý (2020): Thuật ngữ kiến trúc truyền thống nhà rường Huế – Nhà xuất bản Thế giới – MaiHaBooks;
– Nguyễn Thị Xuân (2023): Diễn biến bộ khung gỗ trong kiến trúc cổ truyền của người Việt – Tạp chí Kiến trúc – https://www.tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/dien-bien-bo-khung-go-trong-kien-truc-co-truyen-cua-nguoi-viet.html;
– Nguyễn Tiến Đức, & Phạm Đức Nguyên (2015): Traditional architecture of the Tay minor ethnic group in Thai Nguyen province in view of bio-climatic analyses – Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng (TCKHCNXD)-ĐH Xây dựng Hà Nội, 9(4), 13-18;
– Nguyễn Xuân Hoanh (2010): Nhà gỗ dân gian truyền thống của người Việt ở Vĩnh Long – Trường ĐH Văn hóa Hà Nội;
Phuong Ly, Janis Birkeland, & Nur Demirbilek (2010): Applying Environmentally Responsive Characteristics of Vernacular Architecture to Sustainable Housing in Vietnam, Sustainable Architecture & Urban Development. In: CSAAR Press, Amman, Jordan;
– Trần Thị Quế Hà (2008): Nguồn gốc và quá trình phát triển của kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống người Việt;
– Truong Nguyen Hoang Long (2014): Lessons from climatic response in Vietnamese vernacular house – Journal of Civil Engineering and Environmental Technology, 1(2), 41-46;
– Vũ Tam Lang (1999): Kiến trúc cổ Việt Nam;



Nguồn