Tóm tắt
Trong bối cảnh các công trình xây dựng ngày càng hướng tới phát triển bền vững, chất lượng không khí trong nhà (Indoor Air Quality – IAQ) và tiện nghi nhiệt (Thermal Comfort) trở thành những tiêu chí quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, hiệu suất học tập và làm việc của con người. Bài báo trình bày mô hình đào tạo liên ngành gắn với thực hành IAQ và tiện nghi nhiệt cho sinh viên ngành Kiến trúc. Thông qua việc tích hợp kiến thức lý thuyết, thí nghiệm thực tế và các bài tập liên ngành, mô hình đào tạo mới giúp sinh viên nâng cao năng lực ứng dụng, tư duy hệ thống và khả năng phối hợp chuyên môn. Kết quả khảo sát cho thấy phương pháp đào tạo này giúp sinh viên hứng thú hơn trong học tập, góp phần cải thiện rõ rệt kỹ năng thực hành, nhận thức về IAQ và tiện nghi nhiệt, liên hệ giữa thiết kế kiến trúc và các giải pháp kỹ thuật, đồng thời chuẩn bị tốt cho yêu cầu nghề nghiệp sau khi ra trường.
Từ khóa: Đào tạo liên ngành, chất lượng không khí trong nhà, tiện nghi nhiệt, kiến trúc bền vững, thiết kế tích hợp hiệu quả năng lượng.
Đặt vấn đề
Phương pháp đào tạo liên ngành đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, chia sẻ, cho thấy đây là nhu cầu cấp thiết trong giáo dục đại học [1]. Đào tạo liên ngành không đơn thuần là kết hợp nhiều lĩnh vực mà là quá trình tích hợp tri thức để giải quyết những vấn đề phức tạp, vượt quá phạm vi của từng ngành riêng lẻ. Tính liên ngành được xây dựng trên cơ sở những ngành có mối liên hệ tự nhiên với nhau và giải quyết được những vấn đề tổng hợp. Để làm được điều đó, các chuyên ngành cần phải có mức độ hòa quyện vào nhau, thâm nhập và liên kết với nhau một cách mật thiết để tạo ra sự thay đổi về chất trong quá trình đào tạo.
Tại Việt Nam đã có các nghiên cứu về phương pháp dạy liên ngành, tích hợp bền vững cho các ngành kiến trúc như: Nghiên cứu của Dương Bích Phượng “Chuyển đổi số và đào tạo liên ngành trong kiến trúc từ Studio truyền thống đến digital studio” đăng trên Tạp chí Khoa học – trường ĐH Mở Hà Nội [2]; nghiên cứu của PGS.TS Vũ Hồng Cương “Tích hợp tính bền vững trong đào tạo ngành thiết kế nội thất tại Việt Nam” đăng trên Tạp chí Xây dựng [3]; nghiên cứu của KTS Nguyễn Thị Hoài Thu “Dạy kiến trúc bền vững và khái niệm bền vững” đăng trên tạp chí Kiến trúc [4]; hay nghiên cứu của Nguyễn Thị An Anh “Đổi mới các môn học môi trường Kiến trúc theo hướng Kiến trúc bền vững” đăng trên Tạp chí Kiến trúc [5] … Tuy nhiên, việc triển khai cũng như nghiên cứu về đào tạo liên ngành trong cùng một môn học gắn với thực hành IAQ và tiện nghi nhiệt cho sinh viên ngành kiến trúc còn hạn chế, kể cả tại các trường đào tạo đa ngành liên quan tới xây dựng. Trên cơ sở tìm hiểu và thu thập dữ liệu từ một số trường đại học đào tạo ngành kiến trúc và xây dựng, nhóm tác giả tổng hợp kết quả và trình bày trong Bảng 1.
Bảng 1. Thực tế đào tạo IAQ kết hợp thực hành cho sinh viên ngành kiến trúc tại một số trường đại học ở Việt Nam (nguồn: Tác giả tổng hợp)
Trong số các trường đào tạo đa ngành liên quan tới kiến trúc, xây dựng có Trường ĐH Xây dựng Hà Nội đã đưa vào khai thác Trung tâm thực hành giải pháp HVAC, không chỉ với ngành Kỹ thuật xây dựng mà còn triển khai thực hành kết hợp môn học liên ngành “Hệ thống kiểm soát môi trường 3” cho ngành Kiến trúc.
Bài viết dựa trên phân tích các tài liệu, tiêu chuẩn để đưa ra định hướng về cách tổ chức học phần trong đào tạo liên ngành gắn với thực hành về IAQ, giúp sinh viên có nhiều trải nghiệm thực tế và hình thành tư duy giải quyết vấn đề dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Từ đó, đưa ra mô hình đào tạo tích hợp liên ngành về IAQ và tiện nghi nhiệt cho sinh viên ngành Kiến trúc thông qua quá trình giảng dạy môn học tại trường ĐH Xây dựng Hà Nội. Từ đó, có thể hình thành cách tiếp cận đa chiều để xem xét hiệu quả của đào tạo tích hợp liên ngành gắn với thực hành trong ngành Kiến trúc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
IAQ và tiện nghi nhiệt trong kiến trúc và môi trường xây dựng
Chất lượng không khí trong nhà và tiện nghi nhiệt là một trong những thành phần quan trọng nhất của chất lượng môi trường trong nhà (Indoor Environmental Quality – IEQ), có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sự thoải mái và hiệu suất làm việc của con người trong không gian xây dựng. Với thực tế con người dành 80-90% thời gian sống trong các không gian kín [6, 7, 8], khiến IEQ trở thành vấn đề trung tâm trong nghiên cứu kiến trúc vì sức khỏe và môi trường xây dựng.
IAQ và tiện nghi nhiệt không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ tương hỗ chặt chẽ. Việc cải thiện IAQ thông qua tăng cường thông gió có thể làm thay đổi điều kiện nhiệt trong nhà; ngược lại, kiểm soát nhiệt độ bằng hệ thống điều hòa nếu không hợp lý có thể dẫn đến tích tụ khí CO2, tăng độ ẩm và suy giảm chất lượng không khí. Chính vì vậy, xu hướng tiếp cận hiện đại coi IAQ và tiện nghi nhiệt là hai thành phần không thể tách rời trong đánh giá chất lượng môi trường trong nhà. Quan điểm này được thể hiện rõ trong các tiêu chuẩn và hệ thống đánh giá công trình bền vững như ASHRAE, ISO, WELL, LEED và BREEAM.
Tiện nghi nhiệt trong công trình chịu ảnh hưởng bởi hai nhóm yếu tố chính: nhóm các yếu tố môi trường vi khí hậu (nhiệt độ không khí, độ ẩm, tốc độ gió, nhiệt độ bức xạ trung bình) và nhóm các yếu tố con người (mức độ hoạt động, trang phục, thói quen sinh hoạt và khả năng thích nghi khí hậu,…). IAQ được xác định thông qua các nhóm chỉ tiêu chính: nhóm các chỉ tiêu hóa học (CO2, CO, VOCs, formaldehyde, bụi mịn PM2.5, PM10); nhóm các chỉ tiêu sinh học (vi khuẩn, nấm mốc, bào tử trong không khí) và nhóm các yếu tố môi trường vi khí hậu. Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm của Việt Nam, vấn đề IAQ càng trở nên phức tạp do độ ẩm cao kéo dài, tạo điều kiện cho nấm mốc phát triển; do không khí ô nhiễm đô thị xâm nhập mạnh vào công trình và xu hướng sử dụng vật liệu hoàn thiện và nội thất công nghiệp có phát thải VOCs.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, gia tăng các đợt nắng nóng cực đoan và hiện tượng đảo nhiệt đô thị, yêu cầu đảm bảo tiện nghi nhiệt và IAQ đặt ra những thách thức lớn đối với thiết kế kiến trúc và môi trường xây dựng. Các giải pháp thiết kế thụ động trong cải thiện tiện nghi nhiệt, bao gồm: Hướng và hình khối công trình phù hợp khí hậu; tổ chức không gian; tổ chức thông gió tự nhiên; giải pháp che nắng, cách nhiệt lớp vỏ công trình và ứng dụng các yếu tố xanh như mái xanh, tường xanh, mặt nước luôn được xem là yếu tố rất quan trọng trong thiết kế công trình hiệu quả năng lượng. Các nghiên cứu gần đây cho thấy IAQ không chỉ phụ thuộc vào hệ thống cơ điện mà chịu tác động mạnh mẽ từ quyết định thiết kế thụ động và và lựa chọn vật liệu hoàn thiện. IAQ ngày càng được nhìn nhận như một chỉ tiêu thiết kế ngay từ giai đoạn ý tưởng, thay vì chỉ là yêu cầu kiểm soát ở giai đoạn vận hành. Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa KTS, kỹ sư xây dựng, kỹ sư cơ điện và chuyên gia môi trường. Trong đó, KTS đóng vai trò định hình không gian công năng, thông gió, chiếu sáng và sử dụng vật liệu; kỹ sư xây dựng và kỹ sư môi trường đảm bảo các giải pháp kỹ thuật đáp ứng yêu cầu về thông gió, lọc không khí, kiểm soát ẩm và phát thải. Do vậy, IAQ trở thành một nội dung mang tính liên ngành rõ nét, yêu cầu năng lực tích hợp kiến thức kiến trúc – kỹ thuật – môi trường ngay trong quá trình đào tạo.
Từ góc độ đào tạo, IAQ và tiện nghi nhiệt không chỉ là kiến thức lý thuyết mà cần được tiếp cận thông qua: Đo đạc và đánh giá môi trường trong không gian thực; phân tích mối liên hệ giữa giải pháp kiến trúc và các chỉ số môi trường; ứng dụng kết quả đo đạc vào điều chỉnh, đề xuất giải pháp thiết kế.
Việc đưa IAQ và tiện nghi nhiệt vào đào tạo theo hướng liên ngành, gắn với thực hành giúp sinh viên ngành Kiến trúc hình thành tư duy thiết kế dựa trên bằng chứng khoa học, đồng thời nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu thực tiễn nghề nghiệp trong bối cảnh phát triển đô thị bền vững.
Tiêu chuẩn kỹ thuật về IAQ và yêu cầu đào tạo đối với sinh viên ngành Kiến trúc
Có thể thấy, các tiêu chuẩn về giới hạn ô nhiễm không khí trong nhà đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ sức khỏe con người, giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh hô hấp, tim mạch, và các bệnh mãn tính khác. Việc quy định IAQ đã được nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới quy định thông qua các tiêu chuẩn, quy chuẩn. Một số tổ chức và quốc gia được kể đến như:
- WHO (Hướng dẫn về chất lượng không khí trong nhà 2010 – Guidelines for indoor air quality 2010);
- Mỹ (Tiêu chuẩn ASHRAE 62.1:2022- ANSI/ASHRAE Standard 62.1:2022);
- Úc (Bộ quy chuẩn xây dựng quốc gia năm 2022- National Construction Code of Australia 2022);
- Trung Quốc (Tiêu chuẩn chất lượng không khí trong nhà – GB/T 18883:2022);
- Singapore (Tiêu chuẩn Singapore- SS 554 + A1:2016:2021);
- Malaysia (Bộ quy tắc thực hành về chất lượng không khí trong nhà- Industry code of practice on indoor air quality 2010 );
- Việt Nam (TCVN 13521:2022).
WHO đã đưa ra các hướng dẫn về nồng độ giới hạn của nhiều chất ô nhiễm nguy hiểm như CO, NO2, formaldehyde và một số hợp chất hữu cơ có trong chất tẩy rửa [9]. Tiêu chuẩn “ANSI/ASHRAE Standard 62.1-2022” của Mỹ thì lưu ý tới bụi PM2.5 và đưa ra các yêu cầu đối với lưu lượng thông gió tối thiểu cho công trình dân dụng và công nghiệp để đảm bảoIAQ [10]. Tiêu chuẩn GB/T 18883:2022 của Trung Quốc [11] và tiêu chuẩn E.P.A.Air Quality Standard. 2020 của Đài Loan [12] có quy định phạm vi giới hạn nồng độ hầu hết các chất gây ô nhiễm không khí trong nhà như bụi PM2,5, PM10, Pb, CO, CO2, SO2, NO2, O3, TVOC, Formaldehyde…
Tại Việt Nam, tiêu chuẩn “TCVN 13521:2022, Nhà ở và nhà công cộng – Các thông số chất lượng không khí trong nhà” được Bộ Khoa học và công nghệ ban hành năm 2022 đã đưa ra một số tiêu chuẩn về IAQ trong nhà ở và nhà công cộng khi đóng kín cửa trong mùa lạnh và sử dụng điều hòa không khí trong mùa nóng. Ngưỡng nồng độ cho phép được quy định cụ thể với hầu hết các chất ô nhiễm bao gồm bụi PM2,5, PM10, Pb, CO, CO2, SO2, NO2, O3, TVOC, Formaldehyde, Radon, vi khuẩn và nấm mốc với quy định thời gian đo cho nhà công cộng là trung bình 8h, nhà ở là trung bình 24h [13]. Đây là một bước tiến quan trọng, sự kết hợp giữa chính sách và công nghệ trong tương lai sẽ giúp bảo vệ sức khỏe người dân tốt hơn và góp phần xây dựng một môi trường sống an lành.
Các KTS hiện nay cần được trang bị thêm các kỹ năng, kỹ thuật tiên tiến trong việc thực hiện các chiến lược môi trường trong thiết kế xây dựng để có thể nâng cao chất lượng môi trường và chất lượng cuộc sống. Các vấn đề môi trường như: Lựa chọn vật liệu, giảm phát thải khí nhà kính, thiết kế khí hậu, các chiến lược thụ động, kết hợp thụ động – chủ động, hiệu quả vòng đời và chi phí, hiệu quả sử dụng tài nguyên bao gồm quản lý tài nguyên bằng cách thúc đẩy năng lượng thay thế hoặc năng lượng tái tạo là những yếu tố cần cân nhắc trong thực tiễn kiến trúc và cần được đưa vào chương trình đào tạo cho sinh viên thông qua các môn học liên quan.
Việc đào tạo kiến thức liên quan đến IAQ tại trường đại học gồm các mục tiêu sau: (1). Giúp sinh viên nắm vững hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật liên quan; (2) Có thể nhận diện nguy cơ và nguồn ô nhiễm, phân tích được các nguồn phát thải; (3) Đưa ra các giải pháp thiết kế tích hợp bao gồm các giải pháp kiến trúc, hệ thống thông gió- điều hòa không khí (TG-ĐHKK), giải pháp về vật liệu để tối ưu IAQ; (4) Nâng cao kỹ năng tính toán TG-ĐHKK và ứng dụng công nghệ cảm biến, mạng lưới giám sát IAQ để đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong quản lý ô nhiễm.
Mô hình giảng dạy thí điểm theo định hướng liên ngành, kết hợp thực hành IAQ đã được triển khai trong học phần “Hệ thống kiểm soát môi trường 3” áp dụng cho ngành Kiến trúc tại Trường ĐH Xây dựng Hà Nội. Sinh viên đã hoàn thành học phần được khảo sát lấy ý kiến thông qua bảng câu hỏi được thiết kế với các nội dung nhằm thu thập quan điểm về hình thức đào tạo liên ngành, mức độ gắn kết giữa lý thuyết và thực hành IAQ – tiện nghi nhiệt, cũng như chất lượng trang thiết bị phục vụ giảng dạy học phần “Hệ thống kiểm soát môi trường 3”.
Kết quả nghiên cứu
Về tổ chức học phần trong đào tạo liên ngành gắn kết với thực hành về IAQ và tiện nghi nhiệt
Nhằm mục tiêu xây dựng học phần mang tính liên ngành, tăng cường tiếp cận thực tế cũng như tăng tính hiệu quả của học phần thông qua thực hành về IAQ và tiện nghi nhiệt cho sinh viên ngành Kiến trúc, Bảng 2 đưa ra nguyên tắc, cấu trúc, cách đánh giá cũng như đề xuất cho học phần liên ngành.
Về trường hợp triển khai tại Trường ĐH Xây dựng Hà Nội (HUCE)
Theo quyết định số 452/QD-TTg ngày 27/2/2025 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Trường ĐH Xây dựng Hà Nội là cơ sở giáo dục đại học được định hướng phát triển trọng điểm về Kiến trúc và Xây dựng. Với 60 năm hình thành và phát triển, Trường ĐH Xây dựng Hà Nội đào tạo đa ngành về kiến trúc, xây dựng, đây cũng là lợi thế trong việc triển khai đào tạo các môn học liên ngành. Kết hợp giữa phòng thí nghiệm Vật lý kiến trúc của nhóm chuyên môn Kiến trúc Môi trường và Trung tâm thực hành giải pháp HVAC do Panasonic tài trợ năm 2025, học phần “Hệ thống kiểm soát môi trường 3” đã được điều chỉnh nội hàm giảng dạy cho sinh viên ngành Kiến trúc. Cán bộ giảng dạy được phối hợp từ hai nhóm chuyên môn là Kiến trúc Môi trường và nhóm chuyên môn Năng lượng & Môi trường. Môn học gồm 2 tín chỉ, (30 tiết, 12 buổi) với 12 tiết thực hành, 24 tiết lý thuyết. Cách tổ chức môn học theo thông tin nêu trong Bảng 2.
Môn học có chuẩn đầu ra bao gồm:
- So sánh các phương án thiết kế dựa trên các chỉ số về môi trường bên trong và/ hoặc ngoài công trình, giá trị sử dụng, tác động xã hội để xác định ưu nhược điểm và tiềm năng của từng phương án (CLO1);
- Phân tích, đánh giá ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát môi trường đến tiện nghi nhiệt và hiệu quả năng lượng; từ đó đề xuất được các phương án thiết kế thụ động, các giải pháp sử dụng hệ thống kỹ thuật chủ động trong công trình, tích hợp hiệu quả năng lượng (CLO2);
- Ứng dụng hiệu quả các phần mềm mô phỏng đánh giá hiệu quả năng lượng của công trình (CLO3).
Sinh viên thực hành tại Trung tâm thực hành giải pháp HVAC
Sinh viên thực hành IAQ tại Trung tâm thực hành giải pháp HVAC ở buổi 6/12 của học phần, nhằm củng cố lý thuyết về IAQ, cũng như tạo điều kiện để sinh viên trực tiếp quan sát, thực hành trên các sản phẩm, mô hình thực tế. Nội dung thực hành bao gồm: (1) Vận hành hệ thống để đánh giá IAQ trước và sau khi vận hành các kịch bản TG-ĐHKK. (2) Phân tích ảnh hưởng của thông gió, lọc khí, điều khiển nhiệt – ẩm. (3) Đánh giá tiện nghi nhiệt theo cảm giác nhiệt khách quan.
Trong quá trình học tập, giảng viên tiến hành khảo sát nội dung giảng dạy và hoạt động thực hành nhằm nâng cao chất lượng bài giảng, đồng thời đánh giá mức độ tiếp nhận, khả năng cảm nhận và năng lực thu thập thông tin của sinh viên. Bảng khảo sát theo các mức đánh giá từ không đồng ý, bình thường, đồng ý đến rất đồng ý. Tổng số 95 sinh viên các lớp ngành Kiến trúc học môn “Hệ thống kiểm soát môi trường 3” tham gia khảo sát, với 16 câu hỏi, được tóm gọn trong bốn nội dung chính bao gồm (1) Nội dung môn học có sự tích hợp kiến thức từ nhiều ngành/lĩnh vực; (2) Môn học giúp nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề phức hợp; ( 3) Trang thiết bị phòng thí nghiệm/thực hành đáp ứng yêu cầu môn học; (4) Thực hành giúp sinh viên liên hệ giữa thiết kế kiến trúc – giải pháp kỹ thuật, tăng tính trực quan và khả năng ứng dụng nghề nghiệp. Kết quả khảo sát được thể hiện qua biểu đồ sau:
1- Nội dung môn học có sự tích hợp kiến thức từ nhiều ngành/lĩnh vực
2- Môn học giúp nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề phức hợp
3- Trang thiết bị phòng thí nghiệm/thực hành đáp ứng yêu cầu môn học
4- Thực hành giúp SV liên hệ giữa thiết kế kiến trúc – giải pháp kỹ thuật, tăng tính trực quan và khả năng ứng dụng nghề nghiệp
Kết quả thu được sau khảo sát: 88,4% sinh viên tham gia khảo sát rất đồng ý hoặc đồng ý với ý kiến: nội dung môn học có tích hợp kiến thức từ nhiều ngành/lĩnh vực, 12,6% sinh viên chọn phương án bình thường và không có sinh viên chọn phương án không đồng ý. Tương tự ở các câu hỏi (2), (3), (4) liên quan đến trang thiết bị thực hành, sự bổ trợ của môn học cũng như thực hành đến kỹ năng giải quyết vấn đề phức hợp, liên ngành và ứng dụng nghề nghiệp, trên 85% sinh viên chọn phương án đồng ý và rất đồng ý, chỉ 11% sinh viên chọn phương án bình thường và không có sinh viên chọn phương án không đồng ý. Có thể thấy số sinh viên đã học môn học giảng dạy liên ngành và tham gia thực hành phần lớn đều hào hứng và có đánh giá tốt cho hiệu quả mà môn học mang lại. Đây cũng là tiền đề cho việc triển khai các môn học có tính liên ngành tiếp theo cho sinh viên các ngành có yêu cầu sự tích hợp nhiều lĩnh vực như ngành Kiến trúc và Xây dựng.
Kết luận
Việc tích hợp các học phần liên ngành gắn với thực hành trong chương trình đào tạo ngành Kiến trúc là cần thiết nhằm trang bị cho sinh viên nền tảng kiến thức,kỹ năng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, đồng thời nâng cao năng lực nhận diện và ứng phó với các thách thức môi trường hiện nay. Nghiên cứu này góp phần đề xuất và định hình một mô hình tổ chức học phần liên ngành, qua đó thúc đẩy đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao hiệu quả đào tạo theo hướng ứng dụng.
Kết quả cho thấy việc lồng ghép nội dung thực hành về IAQ đối với sinh viên ngành Kiến trúc có ý nghĩa quan trọng, giúp người học hình thành cách nhìn thực tiễn và toàn diện hơn khi giải quyết các bài toán thiết kế có liên quan đến yếu tố kỹ thuật, sức khỏe và bền vững. Thông qua các hoạt động thực hành, sinh viên không chỉ hiểu rõ hơn các tác động của lựa chọn vật liệu, tổ chức không gian và giải pháp thông gió đến IAQ, mà còn có cơ sở để đề xuất các phương án thiết kế phù hợp, hướng tới các sản phẩm kiến trúc bền vững và có trách nhiệm.
Bên cạnh đó, quá trình phối hợp và trao đổi giữa các nhóm chuyên môn tạo điều kiện tăng cường hiểu biết lẫn nhau, phát huy tính bổ trợ trong xây dựng nội dung bài giảng, thiết kế hoạt động học tập và mở rộng hướng nghiên cứu liên ngành. Sự tương tác này giúp thống nhất ngôn ngữ chuyên môn, làm rõ yêu cầu đầu ra theo năng lực, đồng thời nâng cao tính liên thông giữa các học phần, từ đó hỗ trợ giảng viên xây dựng các chủ đề dạy học có tính tích hợp và bám sát thực tiễn.
Để đảm bảo chất lượng và tính cập nhật, cần duy trì cơ chế đánh giá định kỳ hiệu quả đào tạo và điều chỉnh phương pháp triển khai dựa trên phản hồi của người học, giảng viên và các bên liên quan. Đồng thời, nên khuyến khích sinh viên tham gia các cuộc thi sáng tạo liên ngành, các chương trình trao đổi học thuật và hợp tác quốc tế nhằm tiếp cận kinh nghiệm tiên tiến, tăng cường năng lực làm việc nhóm đa ngành và củng cố khả năng vận dụng kiến thức vào bối cảnh thực tiễn.
THS.KS Đinh Thị Phương Lan
THS.KS Naguyễn Thị Mỹ Lệ, THS.KS Nguyễn Văn Sĩ *
*Trường ĐH Xây dựng Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 02-2026)
Tài liệu tham khảo
1. Caroline T.W. Chan, William Sher (2014); Exploring AEC education through collaborative learning; Engineering, Construction and Architectural Management;
2. Dương Bích Phương (2025): Chuyển đổi số và đào tạo liên ngành trong kiến trúc từ Studio truyền thống đến digital studio – Tạp chí Khoa học- Trường ĐH Mở Hà Nội;
3. Vũ Hồng Cương, Trần Ngọc Thanh Trang (2024): Tích hợp tính bền vững trong đào tạo ngành thiết kế nội thất tại Việt Nam – Tạp chí Xây dựng;
4. Nguyễn Thị Hoài Thu (2016): Dạy kiến trúc bền vững và khái niệm bền vững – Tạp chí Kiến trúc.
5. Nguyễn Thị An Anh, Phạm Tiến Bình, Nguyễn Thị Khánh Phương (2017): Đổi mới các môn học môi trường Kiến trúc theo hướng Kiến trúc bền vững – Tạp chí Kiến trúc;
6. Neil E Klepeis et al.(2001): The National Human Activity Pattern Survey (NHAPS): a resource for assessing exposure to environmental pollutants. Journal of exposure science & environmental epidemiology, 11(3): p. 231-252;
7. Tun Z Maung et al.(2022): Indoor Air Pollution and the Health of Vulnerable Groups: A Systematic Review Focused on Particulate Matter (PM), Volatile Organic Compounds (VOCs) and Their Effects on Children and People with Pre-Existing Lung Disease. International Journal of Environmental Research and Public Health. 19, 8752;
8. Andrea Spinazzè et al.(2020): Indoor gaseous air pollutants determinants in office buildings—The OFFICAIR project. Indoor Air, 30(1): p. 76-87;
9. WHO (2010): Guidelines for indoor air quality 2010;
10. USA (2022): ANSI/ASHRAE Standard 62.1-2022;
11. China (2022): GB/T 18883:2022;
12. Taiwan (2020): E.P.A.Air Quality Standard;
13. Bộ Khoa học và Công nghệ (2022), TCVN 13521:2022 – Nhà ở và nhà công cộng – Các thông số chất lượng không khí trong nhà.
