Năm 1926, cách đây vừa tròn một thế kỷ, quá trình đào tạo KTS ở Việt Nam đã bắt đầu tại Trường Mỹ thuật Đông Dương (MTĐD) thuộc Đại học (ĐH) Đông Dương. Gần 100 năm sau, vào năm 2024, khóa đào tạo KTS đầu tiên của ĐHQGHN mới chính thức được triển khai tại Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật (KHLN&NT). Nếu coi ĐH Đông Dương như tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) hôm nay, liệu những di sản từ Trường MTĐD có tiếp tục được trân trọng, thậm chí trở thành nguồn cảm hứng khi xây dựng chương trình đào tạo KTS ở đây?
Tương tự như với hội họa, Trường MTĐD đã thiết lập nền móng cho kiến trúc của một nước Việt Nam hiện đại và đào tạo nhiều gương mặt xuất sắc có đóng góp quan trọng. Tuy vậy, suốt một thời gian dài và bởi nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan, có những nền tảng trong mô hình do nó xây dựng đã không được duy trì để đào tạo các thế hệ KTS kế tiếp. Bài viết này sẽ làm nổi bật một số đặc trưng trong quá khứ vẫn còn nguyên giá trị, thậm chí còn trở nên cấp thiết hơn đối với giáo dục tinh hoa khi phải đối diện với xu hướng thực dụng đang thịnh hành hôm nay.
Tri thức liên ngành và tinh thần giáo dục khai phóng
Được biết đến ngay từ thuở đầu như sự kết hợp giữa nghệ thuật và kỹ thuật, kiến trúc là một nghề đòi hỏi làm chủ nhiều kỹ năng chuyên sâu nhưng vẫn cần đảm bảo một tư duy tổng hợp và liên ngành ở trình độ cao. Tuy nhiên trước kia, dưới ảnh hưởng từ hệ thống Beaux-Arts của Pháp, đào tạo kiến trúc ở phương Tây thường nằm trong các trường mỹ thuật độc lập, do sự nhấn mạnh vai trò của nghệ thuật tạo hình và việc coi KTS như các nghệ sĩ. Tính chất kỹ thuật chưa quá phức tạp của công nghệ xây dựng lúc bấy giờ cũng giúp duy trì mô hình trên trong một thời gian dài. Nó chỉ thực sự bị thách thức khi xuất hiện trường phái Bauhaus ở Đức và phần nào đó là Vkhutemas ở Nga, với sự đề cao công năng, quy trình sản xuất công nghiệp cùng đòi hỏi phải đáp ứng những yêu cầu mới của xã hội. Điều đó đã dẫn đến sự thay đổi triết lý về kiến trúc như một lĩnh vực liên ngành nhiều hơn và gián tiếp thúc đẩy mô hình tích hợp kiến trúc vào các đại học đa ngành.
Dù vẫn bị chi phối bởi mô hình Beaux-Arts lúc đó nhưng trên khía cạnh này, Trường MTĐD đã có những bước chuyển khá tiên phong, thể hiện ngay trên tờ trình xin thành lập trường của Giám đốc Nha Học chính Đông Dương Blanchard de la Brosse3. So sánh với Trường Mỹ thuật Paris hay các trường kiến trúc ở Pháp do truyền thống kinh viện nên không nằm trong hệ thống đại học4, Trường MTĐD có thể nhờ cách xa chính quốc nên đã đi theo xu hướng thế giới khi nằm trong hệ thống ĐH Đông Dương. Không đơn thuần là giải pháp tình thế để tối ưu hóa khi nguồn lực hạn chế, nó phản ánh tầm nhìn vĩ mô qua nỗ lực gắn kết ngôi trường vào một hệ sinh thái học thuật rộng lớn. Sinh viên mỹ thuật hay kiến trúc nhờ đó có thể học chung một số môn học với sinh viên các ngành khác5, một sự giao lưu cực kỳ cần thiết giúp mở mang thế giới quan. Tư duy liên kết đa ngành còn thể hiện qua việc khai thác sự gần gũi về vị trí của Trường MTĐD với Khu Đấu xảo Hà Nội và Bảo tàng Maurice Long bên cạnh nhằm tạo thuận lợi cho sinh viên học tập, tham quan và tham gia vào các hoạt động triển lãm, thương mại6.
Tri thức liên ngành và tinh thần khai phóng có những mối liên hệ hữu cơ chặt chẽ. Nếu giáo dục khai phóng giúp khai mở và giải phóng tối đa năng lực của mỗi cá nhân, trân trọng cá tính và sự khác biệt với niềm tin rằng mỗi người đều có những thế mạnh riêng khi được tạo điều kiện phát huy có thể mang tới những thành quả lớn, thì trang bị kiến thức liên ngành chính là tiền đề cho câu chuyện đó. Được tiếp xúc với nhiều lĩnh vực đa dạng sẽ giúp người học có cơ hội tìm thấy những thứ thật sự phù hợp để bản thân phát triển. Với các sinh viên bản xứ ở Trường MTĐD, tinh thần khai phóng không chỉ là cảm nhận tự nhiên khi thay đổi từ hệ quy chiếu Nho giáo sang giáo dục phương Tây, mà còn được cụ thể ngay từ báo cáo của Hiệu trưởng Victor Tardieu gửi Toàn quyền Đông Dương năm 1924, chẳng hạn khi mô tả về trường ngoài rèn luyện năng khiếu thẩm mỹ và nâng cao tinh thần còn cần “đảm bảo rằng họ không bị cản trở vì bất kỳ ảnh hưởng nào”7. Trong một môi trường như thế, rất nhiều nhân vật tốt nghiệp từ đây ngay từ khi đất nước còn chưa độc lập đã tràn đầy tự do trong suy nghĩ và không coi mình chỉ như công cụ phục vụ trong chế độ thực dân. Phong trào Nhà Ánh Sáng mà nhóm Tự Lực Văn Đoàn khởi xướng vào thập niên 1930, sự phát triển tân nhạc Việt Nam, công cuộc cách tân áo dài, hay logo với hình phụ nữ khỏa thân của Tổng hội Sinh viên Đại học Đông Dương, cũng như sự tham gia rộng rãi vào hoạt động báo chí của những người từng theo học chính là những ví dụ minh họa rõ nét.
Những di sản trên tiếp tục được lưu giữ và phát huy tại Trường KHLN&NT với mô hình đào tạo hướng đến tinh hoa, nhấn mạnh sự khác biệt giữa học đại học với đào tạo nghề theo chủ trương chung của ĐHQGHN. Việc kiến trúc nằm trong hệ sinh thái khoa học liên ngành và nghệ thuật và rộng hơn nữa là ĐHQGHN cho phép tận dụng tối đa nguồn lực để đi theo hướng này. Khi xây dựng chương trình đào tạo, việc kết hợp kiến trúc và thiết kế cảnh quan không chỉ giúp các sinh viên ra trường có thể hành nghề ở cả hai lĩnh vực, mà còn phản ánh đòi hỏi cấp thiết cần nhìn nhận kiến trúc trong một bối cảnh mở rộng với các vấn đề về môi trường sinh thái và văn hóa xã hội. Tư duy liên ngành sẽ giúp giải quyết tốt hơn các vấn đề phức tạp vốn thường cần đến hiểu biết trên nhiều lĩnh vực. Nó cũng giúp các cá nhân dễ dàng chia sẻ quan điểm thay vì khăng khăng giữ mãi những góc nhìn độc tôn. Tri thức liên ngành thường dẫn đến tiếp cận liên ngành, và việc thay đổi góc nhìn có thể mang lại nhiều gợi ý cho những hướng xử lý hoặc sáng tạo mới.
Tại Trường KHLN&NT, ngoài những học phần đa dạng gắn liền với kiến trúc, sinh viên còn có thể tự chọn nhiều môn từ các ngành khác. Điều này khuyến khích cá thể hóa con đường học tập và phát triển của mỗi cá nhân, qua đó phản ánh tư duy giáo dục khai phóng mà nhà trường hướng tới. Các bài tập đều có tính liên kết môn học để sinh viên sớm thích nghi với các vấn đề thực tiễn về sau. Trong chương trình thậm chí còn có một workshop với nội dung khám phá ranh giới giữa kiến trúc với các lĩnh vực khác, vượt qua các quan niệm truyền thống để tái định nghĩa lại kiến trúc. Tuy khối lượng kiến thức cần trang bị là rất lớn nhưng chương trình không dàn trải mà tập trung vào những gì thực sự cốt lõi, đồng thời nhấn mạnh đến tư duy và phương pháp tiếp cận.
Quá trình học vì thế sẽ yêu cầu sinh viên cần chủ động nghiên cứu, cập nhật và luôn sẵn sàng thích ứng với các thay đổi. Tinh thần khai phóng được truyền tải qua việc đề cao tương tác, cổ vũ sự đa dạng và tránh các áp đặt một chiều.
Giảng viên đóng vai trò chủ yếu như người dẫn dắt, khuyến khích tìm tòi và đối thoại trên nền tảng tôn trọng và khơi gợi suy nghĩ độc lập. Tư duy này cũng thể hiện khi đánh giá năng khiếu nghệ thuật trong quy trình tuyển sinh, với bài thi bố cục tạo hình không quá đặt nặng kỹ năng mà ưu tiên cách nhìn, cá tính và khả năng biểu đạt. Bên cạnh đó, phần phỏng vấn được tích hợp để tìm hiểu xem điều gì dẫn dắt mỗi người đến với kiến trúc, mức độ say mê, cũng như đánh giá tư duy, sự nhạy cảm và những nền tảng thẩm mỹ cần thiết cho hành trình dự định theo đuổi.
Nhìn chung, kiến trúc cũng như cảnh quan không đơn thuần chỉ là một nghề. Do tính tổng hợp của rất nhiều khía cạnh, nó trên hết là một cách nhìn cuộc sống và tổ chức xã hội. Vì thế ngay cả khi không phải ai ra trường cũng làm thiết kế, thì việc có được những con người am hiểu các điều kiện và nhân tố để hình thành nên những không gian sống nhân văn và bền vững cũng rất quan trọng, dù họ sẽ là nhà quản lý, chủ đầu tư hay các nghề nghiệp gián tiếp liên quan. Phát triển tư duy liên ngành vì thế sẽ giúp các sinh viên ra trường sẵn sàng hơn với mọi hướng đi tùy theo cơ hội, sở trường, cá tính của mỗi người, và đó cũng chính là sự khai phóng khi mục tiêu đào tạo không còn đóng khung trong những người chỉ làm thiết kế.
Hiện đại nhưng vẫn duy trì kết nối với truyền thống
Đối với nền mỹ thuật và kiến trúc Việt Nam, Trường MTĐD không chỉ mở ra kỷ nguyên hiện đại mà còn giúp các nghệ sĩ và KTS tương lai biết trân trọng và yêu quý những giá trị truyền thống. Những năm trước khi ngôi trường ra đời, việc theo đuổi và bắt chước nghệ thuật phương Tây một cách lai căng trong khi xa rời các đặc trưng bản địa đã dẫn tới những hậu quả tai hại đến nỗi chính người Pháp cũng cảm thấy một phần trách nhiệm. Điều này được mô tả khá kỹ trong báo cáo về việc mở trường của Victor Tardieu năm 1924, khi ông trăn trở trước thực trạng những hình thức nghệ thuật An Nam đầy quyến rũ cùng những di tích cổ lỗi lạc lại chịu thân phận bị coi thường8.
Nếu trong mỹ thuật, việc giảng dạy những tri thức cổ điển phương Tây tạo ra một hệ quy chiếu mới giúp tái nhận diện, hệ thống lại và hiện đại hóa mỹ thuật truyền thống, thì trong kiến trúc cũng diễn ra tương tự. Bên cạnh những môn học về nghệ thuật và khoa học theo chuẩn hàn lâm Pháp, chương trình giảng dạy cũng chủ động đưa kiến trúc truyền thống Việt Nam và Á Đông vào như một nguồn tri thức tham khảo quan trọng. Các sinh biên Ban Kiến trúc và thậm chí Ban Mỹ thuật đều phải học chung môn “Vẽ ghi kiến trúc cổ”, riêng Ban Kiến trúc còn có môn “Lịch sử nghệ thuật kiến trúc và đặc biệt là lịch sử nghệ thuật kiến trúc Viễn Đông”. Phụ trách các môn học này thường là những chuyên gia đến từ Trường Viễn Đông Bác cổ mà một trong số đó là Charles Batteur, người thường trực tiếp dẫn sinh viên đi khảo sát nhằm ghi chép, phục dựng lại các bản vẽ kiến trúc tại những di tích văn hóa lịch sử ở Hà Nội và vùng lân cận. Các bản vẽ này còn được đem dự triển lãm ở những sự kiện lớn như Đấu xảo Paris, chứng tỏ chúng có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ với chương trình đào tạo mà cả danh tiếng của trường9. Cũng như ở châu Âu sinh viên phải vẽ ghi các công trình cổ của Hy Lạp, La Mã như đền Parthenon thì tại Đông Dương, mô hình này được bản địa hóa với những đình chùa Việt Nam. Điều quan trọng là truyền thống không bị đóng khung như những thứ bất biến mà trở thành điểm xuất phát cho những tìm kiếm mới, trong một diễn biến phù hợp với những đòi hỏi của thời đại. Nói các khác, đó là “thực hiện một diễn biến hiện đại trong sự kéo dài một nghệ thuật truyền thống”10. Triết lý này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các thế hệ sinh viên kiến trúc sau này ra trường, khi họ luôn tìm cách tạo ra những kiến trúc hiện đại trên cơ sở truyền thống. Trong một môi trường như thế, dễ hiểu vì sao sự ra đời của phong cách Kiến trúc Đông Dương, nơi tư duy tổ chức không gian phương Tây gặp gỡ những yếu tố bản địa phương Đông, qua những bậc thầy vừa hành nghề vừa tham gia giảng dạy như Ernest Hébrard, Arthur Kruze…, lại được các sinh viên kiến trúc tốt nghiệp từ đây hưởng ứng nhiệt liệt đến vậy.
Là trung tâm học tập và nghiên cứu hàng đầu Việt Nam, ĐHQGHN mang trên mình trọng trách quốc gia trong việc dẫn dắt học thuật. Vai trò tiên phong này khiến định hướng hiện đại hóa trở thành một tất yếu. Trường KHLN&NT với tư cách của một đơn vị thành viên đương nhiên đồng hành và chia sẻ tầm nhìn chung. Trên tư duy ấy, chương trình đào tạo KTS tại đây được hình thành hướng tới một bản sắc riêng mà không dựa trên sự mô phỏng hay sao chép bất kỳ mô hình nào có sẵn. Dù tham khảo các chương trình tiên tiến trên thế giới, nó vẫn được xây dựng trước hết căn cứ theo chính bối cảnh phát triển hiện tại của Việt Nam, những thách thức đang phải đương đầu, từ đó xác định các mục tiêu phù hợp, có tính đến tiềm năng nguồn lực và vai trò đặc thù của một ĐHQG.
Một điều dễ thấy là đất nước hôm nay có thể có những công trình đẹp nhưng đô thị và cảnh quan ngày càng thiếu hài hòa gắn kết, thiên nhiên nhiều nơi bị hủy hại. Việc tích hợp kiến thức cảnh quan vào đào tạo kiến trúc vì vậy không còn là lựa chọn mà là một yêu cầu thời sự không thể trì hoãn.
Trên thế giới, trong lĩnh vực thiết kế, cảnh quan giờ đây ngày càng vượt lên như một cách thức tiếp cận tổng thể bất kể quy mô. Nó không chỉ liên quan đến những vấn đề về vai trò của mặt nước cây xanh, thiên nhiên hay hệ sinh thái, mà còn cả những yếu tố xã hội tác động đến nhận thức và chất lượng môi trường sống nói chung. Sự mở rộng những khía cạnh cần quan tâm như vậy giúp chương trình đào tạo KTS ở Trường KHLN&NT đảm bảo tính hiện đại trong tư duy, cùng với đó là việc cập nhật các môn học mới như Thiết kế thuật toán hay Ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào thiết kế. Điều đáng chú ý là sự hiện đại này không tách rời mà trái lại còn mở đường cho việc tái khám phá và hồi sinh những tư duy truyền thống, nơi công trình kiến trúc chưa bao giờ là một thực thể độc lập mà luôn được nhìn nhận như thành phần của một tổng thể với những mối quan hệ hữu cơ.
Trên quan điểm này, chương trình đặc biệt chú trọng đến những môn học về lịch sử kiến trúc, đô thị và cảnh quan hay các học phần về bảo tồn di sản. Ngay trong các đồ án, giai đoạn nghiên cứu quá khứ với những tập quán, ý nghĩa và thói quen sử dụng không gian cũng cực kỳ quan trọng. Nó không chỉ giúp sinh viên hiểu hơn truyền thống mà còn hình thành thái độ trân trọng những ký ức tập thể. Việc giảng dạy lịch sử không dừng lại ở nghiên cứu quá khứ mà luôn tìm cách rút ra những bài học có thể áp dụng trong kiến trúc đương đại.
Những chuyến đi thực địa hay tham quan bảo tàng cũng góp phần làm sống động thêm kiến thức và giúp sinh viên nhận thức sâu sắc hơn những tiếp biến hình thái qua thời gian.
Đặt trọng tâm vào phát triển bền vững, hình thái không gian giờ đây còn được soi chiếu qua lăng kính sinh thái và sự phát triển của công nghệ nhưng vẫn cần phản ánh bề dày văn hóa. Nếu tách biệt hoàn toàn khỏi truyền thống, mọi đề xuất kiến trúc dù hiện đại đến đâu cũng dễ chỉ dừng lại ở một dạng hạ tầng phục vụ hay những hình thức vui mắt theo xu hướng, những sự độc đáo không ký ức và thiếu chiều sâu. Sự kết hợp hài hòa giữa tiên phong và kế thừa sẽ giải quyết vấn đề này và được kỳ vọng tạo nên một bản sắc riêng cho chương trình kiến trúc tại ĐHQGHN.
Trong quá trình xây dựng đề án, một số chương trình đào tạo nổi tiếng thế giới về sự độc đáo cũng được đưa ra tham khảo, chẳng hạn chương trình của Trường Kiến trúc Bartlett (ĐH London, Vương quốc Anh), vốn luôn nằm trong số những trường hàng đầu về tính sáng tạo. Tuy nhiên xét trong bối cảnh hiện tại của đất nước, một chương trình kiến trúc của ĐHQG dù tiên phong nhưng vẫn cần hướng đến chuẩn mực và cân bằng, vì vậy khó có thể ưu tiên thiên lệch quá vào một vài khía cạnh đột phá. Để đảm bảo tinh thần khai phóng và không tạo trở ngại hạn chế sự phát triển của các sinh viên với thiên hướng khác nhau, ngoài một số học phần giúp khám phá và gợi mở những hướng đi chuyên sâu thì những bài giảng hay buổi nói chuyện chuyên đề từ các khách mời cũng được tính đến, giúp sinh viên làm quen và có thể tự mình xác định những bước đi trên chặng đường tiếp theo.
Trách nhiệm xã hội và tư duy phản biện như những nền tảng của văn hóa nghề nghiệp
Một trong những nhiệm vụ được đặt ra ngay từ tờ trình của Blanchard năm 1924 là đào tạo nên những con người có thể làm thầy, đóng góp vào sự phát triển của nghệ thuật bản địa và tạo được ảnh hưởng tốt trong việc nâng cao thị hiếu11. Dù chỉ giới hạn ở một nhóm nhỏ thì những con người tinh hoa này vẫn sẽ đóng vai trò quan trọng góp phần nâng cao dân trí, và thực tế về sau đã diễn ra đúng như vậy. Trách nhiệm xã hội, vì thế, dù không nằm trong những môn học trực tiếp nhưng hiện diện ngay từ chủ trương ban đầu của Trường MTĐD. Nó được phản ánh xuyên suốt quá trình giảng dạy, mà trước tiên là qua định hướng sáng tác với các chủ đề về đời sống, phong cảnh, kiến trúc và con người Việt Nam.
Nghệ thuật trong lăng kính của Trường MTĐD không chỉ nhằm nâng cao nhận thức thẩm mỹ hay làm phong phú thêm đời sống tinh thần mà còn phục vụ trực tiếp nhu cầu xã hội qua các sản phẩm ứng dụng thực tiễn. Vì thế, trong chương trình sinh viên mỹ thuật cũng phải học những môn như trang trí gốm sứ, đồ kim hoàn hay thiết kế đồ nội thất12. Với sinh viên kiến trúc, việc tiếp xúc với dự án thực tế cũng được tạo điều kiện trải nghiệm từ rất sớm như trường hợp của Tạ Mỹ Duật khi ông được đích thân hiệu trưởng cử về Ninh Bình để thiết kế một công viên cho thị xã13. Tạ Mỹ Duật thậm chí còn ghi dấu ấn với thành công trong các cuộc thi ngay lúc còn chưa ra trường, khi ông đạt giải Nhì (không có giải Nhất) cho phương án thiết kế chùa Quán Sứ, hay giải Nhất cho Đồ án trung tâm thể dục thể thao Cần Thơ14.
Trách nhiệm xã hội cũng liên quan mật thiết đến việc xây dựng nhân cách. Ở Trường MTĐD, nó được truyền trước tiên từ những người thầy mà tiêu chuẩn đặt ra từ đầu là phải “có học thức, tận tâm với nhiệm vụ, nhận ra sự vĩ đại của sứ mệnh được giao phó”15. Không thể nói đến cống hiến hay những lý tưởng sáng tạo lớn lao nếu môi trường đào tạo không tạo điều kiện nuôi dưỡng và giúp nhân cách phát triển. Ở đây có một sự thống nhất quan điểm hoàn toàn giữa Đông và Tây khi cùng đề cao vai trò của nhân cách trong giáo dục. Victor Tardieu cũng nêu rõ mục tiêu này trong báo cáo của ông gửi Toàn quyền Đông Dương về việc thành lập trường: “Để đơm hoa kết trái, bất kỳ công việc giảng dạy nào cũng nhằm vào mục đích phát triển nhân cách của mỗi học sinh, đây chính là lúc sự liêm chính trung thực của người thầy được đánh giá”16.
Việc rèn luyện tư duy phản biện cũng rất được chú trọng. Bản chất phản biện không phải là phủ định hay chống đối, mà mục đích cuối cùng vẫn là giúp hoàn thiện một hướng đi sau khi đã thử thách nó từ những góc nhìn khác nhau. Hơn nữa thiếu vắng phản biện sẽ không thể dẫn đến sáng tạo. Chính vì thế, Tardieu đã viết: “Nói chung là không tạo ra một ngôi trường để giảng dạy các hình thức xưa cũ mà không có sự phân biệt hoặc tư duy phản biện. Một trường học bắt chước mù quáng quá khứ chỉ mang lại những tác phẩm nghệ thuật vô hồn, vĩnh viễn mô phỏng thời đại đã qua”17. Trong bối cảnh những năm đầu thế kỷ 20, đây là một nét tương phản rõ rệt với văn hóa Nho học bấy giờ. Tư duy phản biện thể hiện trước tiên qua việc khuyến khích sinh viên tự do phát triển những phong cách riêng thay vì giới hạn trong những hình mẫu đã có.
Chính nhờ thế mà đã ra đời những tác phẩm dựa trên tư duy tạo hình phương Tây nhưng sử dụng chất liệu và kỹ thuật Á Đông như tranh lụa, sơn mài…, hay các công trình hiện đại với yếu tố cấu trúc và chi tiết trang trí bản địa. Nhìn chung, một cuộc đối thoại Đông – Tây với rất nhiều tương phản trong logic và cách nhìn là một cơ hội tuyệt vời để rèn luyện tư duy phản biện, nhất là khi điều này lại được những người thầy chủ tâm khuyến khích. Trên tinh thần đó, di sản lớn nhất của những nhân vật như Hébrard không hẳn nằm ở những tòa nhà nổi tiếng mà ông đã làm, mà ở việc hình thành nên một thế hệ KTS người Việt được truyền cảm hứng từ những nguyên tắc của ông rồi biến đổi và thích ứng chúng theo những cá tính khác nhau để chính họ tạo nên một phong cách kiến trúc phù hợp với xứ sở18.
Nhiều tấm gương trí thức tiêu biểu thời Đông Dương không giới hạn hoạt động và mối quan tâm của họ chỉ trong phạm vi chuyên môn được học, do thôi thúc bởi khát vọng thay đổi và mong muốn những đóng góp của mình đem lại tối đa giá trị cho xã hội. Tinh thần phản biện vì vậy thường song hành với khát vọng cách tân truyền thống, mà Phong trào Nhà Ánh Sáng là một ví dụ điển hình. Với vai trò người tổ chức không gian sống và hoạt động của con người, khát vọng lớn nhất của các KTS mọi thời và cũng nhờ đó họ được kính trọng chính là phụng sự xã hội thông qua việc kiến tạo những môi trường sống tiến bộ và văn minh chứ không đơn thuần một công việc chỉ để mưu sinh. Việc nhiều sinh viên tham gia các phong trào bãi khóa để thể hiện sự đồng cảm với đồng bào, rồi khi trở thành KTS cũng sẵn sàng bỏ lại mọi vật chất vinh hoa để đi theo cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ của dân tộc, là những minh chứng rõ ràng cho tinh thần cống hiến này.
Trong khi đó, các KTS ngày nay thiên về rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề để giúp khách hàng hơn là nuôi dưỡng tầm nhìn dài hạn hay những hoài bão lớn lao. Hành nghề kiến trúc vì vậy có thể đi kèm lý tưởng, nhưng đôi khi cũng chỉ được xem như công việc mang lại thu nhập trong một giai đoạn. Các cơ sở đào tạo không phải không nhận ra điều này, nhưng những chỉ tiêu số lượng và áp lực cạnh tranh đã làm họ phải theo đuổi những hiệu quả thực dụng thấy ngay nhằm đáp ứng nhu cầu của người học.
Dẫu vậy trên thực tế, cùng với khát vọng sáng tạo thì mong muốn cống hiến vẫn là một yếu tố cốt lõi làm nên văn hóa nghề nghiệp của nghề kiến trúc. Từ trong sâu thẳm các KTS thực sự yêu nghề như đã nói đều mong muốn được đóng góp những điều ý nghĩa cho xã hội chứ không chỉ coi kiến trúc như phương tiện kiếm sống. Bước chuyển quan trọng đã diễn ra từ thời Phục hưng khi sau một thời gian dài tuy giữ vai trò quan trọng nhưng ít được vinh danh, các KTS bắt đầu bước ra ánh sáng như những chủ thể sáng tạo, thậm chí được nhìn nhận như những đại diện của Chúa trong việc kiến tạo thế giới. Dù quan niệm này thường dẫn tới những niềm kiêu hãnh đôi khi quá mức, nó đồng thời đã góp phần làm sâu sắc hơn hẳn ý thức về trọng trách xã hội của nghề nghiệp mà các KTS theo đuổi.
Tinh thần này tiếp tục được cổ vũ trong đào tạo KTS tại Trường KHLN&NT, thể hiện ngay trong bức thư chào mừng gửi đến các tân sinh viên kiến trúc khóa đầu tiên. Với tư cách một chương trình thuộc ĐHQG, bên cạnh đề cao chuẩn mực và uy tín, nhấn mạnh hài hòa thay vì những trào lưu sáng tạo cực đoan, hướng đến tinh hoa thay vì ưu tiên số lượng… thì sau hết, phụng sự xã hội vẫn là một trong những nhiệm vụ tối thượng. Chính vì lẽ đó, quy trình tuyển sinh được tích hợp một buổi phỏng vấn nhằm nhận diện và đánh giá không chỉ năng lực, nhu cầu bản thân, mà cả những ước mơ được đóng góp cho xã hội nếu có dù được biểu lộ thế nào.
Trách nhiệm xã hội ở Trường KHLN&NT còn thể hiện ở cách hiểu về nghề kiến trúc theo nghĩa rộng. Nhà trường không chỉ đào tạo những người làm thiết kế đơn thuần, mà hướng đến đầu ra là những cá nhân có thể đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau, miễn là họ có đủ nhân cách và tri thức để đóng góp vào quá trình tổ chức không gian và môi trường sống nói chung.
Việc xem kiến trúc gắn với cảnh quan như hai yếu tố không thể tách rời cũng hàm ý các KTS cần quan tâm hơn đến bối cảnh và thể hiện trách nhiệm cả về môi trường và văn hóa chứ không nên tập trung vào mỗi công trình mình được đặt hàng. Chương trình đào tạo do vậy ngoài năng lực thiết kế còn nhấn mạnh đến tầm nhìn và văn hóa nhìn, sự nhạy cảm và chín chắn, sự thấu hiểu bối cảnh và tôn trọng khác biệt…, những định hướng đã được xác lập ngay từ trong đề án mở ngành. Một môi trường sống nhân văn và bền vững đòi hỏi quan tâm đến mọi đối tượng, đặc biệt là cả những cộng đồng yếu thế. Vì vậy các học phần về hình thái đô thị và không gian công cộng, cùng những đồ án chuyên sâu về thiết kế đô thị đặt trọng tâm vào nghiên cứu bối cảnh cũng được đưa vào. Chúng sẽ giúp nâng cao năng lực phân tích và nhận diện vấn đề, nhất là các vấn đề xã hội, trước khi đề xuất giải pháp, qua đó góp phần hình thành ý thức trách nhiệm xã hội như một chuẩn đầu ra cốt lõi. Đồng thời, học phần Lý luận và phê bình tác phẩm không chỉ rèn luyện kỹ năng diễn đạt sao cho khúc triết mà còn tạo điều kiện cho sinh viên thực hành phản biện như một cách đóng góp cho sự phát triển trong tương lai. Điều này cũng củng cố thêm ý nghĩa nghề nghiệp mà Georges Candilis từng nhắc nhở khi trở lại Trường Mỹ thuật Paris vốn vẫn mang nặng tư tưởng kinh viện vào những năm 1960, rằng kiến trúc không chỉ là nghệ thuật tạo hình mà còn là một hành động xã hội, văn hóa và chính trị19. Trong hoàn cảnh mà tư duy thực dụng thường xuyên chi phối các hoạt động ngày nay, những lời dặn này còn nguyên giá trị thời sự với mọi chúng ta.
Thay lời kết
Mục đích trước tiên của bài viết này là cố gắng điểm lại một số di sản nổi bật trong việc giảng dạy ở Trường MTĐD, mà không có ý định đi sâu mô tả chương trình đào tạo KTS ở Trường KHLN&NT thuộc ĐHQGHN. Nếu đôi chỗ có những sa đà vào chi tiết thì mong muốn thực sự của tác giả cũng là nhằm cụ thể ra đâu là những kế thừa đã được thực hiện. Trên thực tế, vẫn còn nhiều bài học quan trọng nữa, ví dụ như: Vai trò trung tâm của các xưởng đồ án, sự kết nối giữa giảng dạy và thực tiễn, hay những hoạt động ngoại khóa của sinh viên… Chúng xứng đáng được đề cập tiếp tục trong những dịp khác.
Những di sản được nhắc đến ở đây một phần còn do chúng từng bị lãng quên trong một giai đoạn lịch sử khá dài. Cho đến trước công cuộc Đổi mới năm 1986, nền kinh tế tập trung và bao cấp XHCN phù hợp với việc áp dụng mô hình đào tạo đơn ngành để đáp ứng nhu cầu phân bổ nhân lực theo kế hoạch. Mô hình chuyên môn hóa chặt chẽ này không đề cao khai phóng hay khuyến khích phản biện nhằm đảm bảo sự nhất quán khi triển khai, đặc biệt trong những thời kỳ khó khăn như lúc đất nước còn chiến tranh, mọi người dân cần toàn tâm toàn ý đồng lòng để huy động được nguồn lực tối đa. Việc thiếu vắng tri thức liên ngành và tinh thần phản biện cũng giới hạn năng lực cá nhân, và dưới góc độ nào đó gián tiếp hạn chế cả việc phát huy trách nhiệm xã hội. Con người có xu hướng chấp nhận và tuân theo những lối đi định sẵn thay vì tìm cách góp ý để cải thiện chúng. Mối quan hệ giữa hiện đại và truyền thống cũng luôn dao động giữa hai thái cực, mà việc đến tận bây giờ Hội KTS Việt Nam vẫn đề cao những khẩu hiệu bảo vệ bản sắc cũng đồng nghĩa với sự thừa nhận rằng giữa chúng chưa bao giờ có được một sự cân bằng hài hòa.
Việc tái công nhận và tìm cách phát huy những di sản từ thời Trường MTĐD này còn bởi vì, và trên hết, chúng thực sự vẫn là những nền tảng thiết yếu cần trang bị trong giáo dục kiến trúc. Trong một thế giới ngày càng khó đoán với sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo và những bất ổn địa chính trị diễn ra liên tục, các kỹ năng dù quan trọng đến đâu vẫn luôn đối mặt với chuyện có thể bị vượt qua. Để thực sự làm chủ được công việc và sử dụng trí tuệ nhân tạo như công cụ mà không bị chúng chi phối hoặc thay thế, việc nhận thức rõ sứ mệnh nghề nghiệp, những giá trị bền vững theo thời gian, và một tư duy thích ứng linh hoạt không bị đóng khung là cực kỳ quan trọng. Chỉ có như vậy những sinh viên kiến trúc của ngày hôm nay mới có thể tự tin hướng tới tương lai.
TS.KTS. Lê Phước Anh*
*Trưởng Khoa Kiến trúc, Đô thị và Khoa học bền vững
Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật – Đại học Quốc gia Hà Nội
(Bài đăng trên Tạp chí Kiến trúc số 03-2026)
Ghi chú
1. Nghị định ngày 01/10/1926 của Toàn quyền Đông Dương về việc thành lập Ban Kiến trúc tại Trường MTĐD; trong Phạm Long & Trần Hậu Yên Thế (Đồng chủ biên), Mỹ thuật và nghệ thuật ứng dụng ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX từ góc nhìn giáo dục nghệ thuật, NXB Đại học Sư phạm, 2024, tr. 72-81.
2. Bài viết có sử dụng một số tư liệu do chính tác giả viết khi thực hiện Đề án xây dựng chương trình đào tạo bậc đại học ngành Kiến trúc (chuyên ngành Kiến trúc và Thiết kế cảnh quan) để cấp bằng Kiến trúc sư tại Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật – Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Tờ trình của Giám đốc Nha học chính Đông Dương gửi Toàn quyền Đông Dương về việc phê chuẩn Dự thảo Nghị định thành lập Trường MTĐD năm 1924; trong Phạm Long & Trần Hậu Yên Thế (Đồng chủ biên), 2024, tr. 53.
4. Quản lý bởi Bộ Văn hóa, các trường kiến trúc ở Pháp (ENSA) tồn tại song song dù duy trì nhiều liên kết với các đại học, vốn thuộc Bộ Giáo dục Đại học, Nghiên cứu và Không gian. Mối quan hệ chủ yếu diễn ra ở việc nghiên cứu, đặc biệt là bậc học tiến sĩ cần bắt buộc kết hợp với một đại học để cấp bằng.
5. Phạm Long & Trần Hậu Yên Thế, 100 câu hỏi về Lịch sử Trường Mỹ thuật Đông Dương, NXB Thế giới, 2025, tr. 163.
6. Phạm Long & Trần Hậu Yên Thế, 2025, tr. 101.
7. Báo cáo của Victor Tardieu năm 1924 về việc giảng dạy mỹ thuật tại Đông Dương và việc thành lập một trường vẽ trung ương tại Hà Nội; trong Phạm Long & Trần Hậu Yên Thế (Đồng chủ biên), 2024, tr. 36.
8. Báo cáo của Victor Tardieu năm 1924; trong Phạm Long & Trần Hậu Yên Thế (Đồng chủ biên), 2024, tr. 33 & 39.
9. Như trường hợp bản đạc họa chùa Một Cột của Trần Quang Trân tại Đấu xảo Paris 1937; theo Quang Phòng & Quang Việt, Trường Mỹ thuật Đông Dương – Lịch sử và Nghệ thuật, NXB Mỹ thuật, 2022, tr. 20.
10. Tạp chí L’Illustration No.4608 ngày 27/06/1931 ; trích trong Quang Phòng & Quang Việt, tr. 7.
11. Tờ trình của Giám đốc Nha học chính; trong Phạm Long & Trần Hậu Yên Thế (Đồng chủ biên), 2024, tr. 53.
12. Phụ lục Nghị định ngày 27/10/1924: Trường Mỹ thuật Đông Dương – Chương trình giảng dạy tổng quát; trong Phạm Long & Trần Hậu Yên Thế (Đồng chủ biên), 2024, tr. 64.
13. Tạ Mỹ Dương (Chủ biên), Tạ Mỹ Duật – Dấu ấn thời gian, NXB Khoa học và Kỹ thuật, 2010, tr. 57.
14. Tạ Mỹ Dương, tr. 59-60.
15. Báo cáo của Victor Tardieu năm 1924; trong Phạm Long & Trần Hậu Yên Thế (Đồng chủ biên), 2024, tr. 37.
16. Báo cáo của Victor Tardieu năm 1924; trong Phạm Long & Trần Hậu Yên Thế (Đồng chủ biên), 2024, tr. 40.
17. Báo cáo của Victor Tardieu năm 1924; trong Phạm Long & Trần Hậu Yên Thế (Đồng chủ biên), 2024, tr. 39.
18. Caroline Herbelin, Architecture du Vienam colonial – Repenser le métissage, CTHS-INHA, L’Art et l’Essai, 2016, tr. 63.
19. Yannis Tsiomis, “Les cours de Georges Candilis aux Beaux-Arts dans les années 1960 : entre anthropologie et politique” ; trong Lucile Arnoux-Farnoux (Chủ biên), Le double voyage: Paris-Athènes (1945-1975), École française d’Athènes, 2021, tr. 69-80.
