Làng Nủ – công trình tái thiết giữ bản sắc kiến trúc Tày
Đồ án thiết kế Làng Nủ giành Giải Vàng Kiến trúc quốc gia 2024-2025, ghi nhận mô hình tái thiết thần tốc sau lũ quét, vừa ổn định đời sống 37 hộ dân, vừa gìn giữ bản sắc kiến trúc Tày.
Sau trận lũ quét nghiêm trọng tháng 9/2024, 37 hộ dân làng Nủ, huyện Bảo Yên cũ, tỉnh Lào Cai, mất hoàn toàn nhà cửa. Chỉ gần 3 tháng sau, khu Làng Nủ mới được xây dựng cách vị trí cũ khoảng 2 km, tạo điều kiện để người dân từng bước ổn định cuộc sống.
Công trình Làng Nủ mới nhận Giải Vàng Giải thưởng Kiến trúc quốc gia 2024-2025 do Hội Kiến trúc sư Việt Nam tổ chức. Dự án là tâm huyết của nhóm KTS Hoàng Thúc Hào, Nguyễn Xuân Ngọc, Vũ Xuân Sơn cùng cộng sự Công ty CP Kiến trúc Xây dựng quốc tế 1+1>2, phối hợp với Viện Kiến trúc Quy hoạch Xây dựng, Sở Xây dựng Lào Cai.
KTS Hoàng Thúc Hào, chủ nhiệm đồ án, cho biết sau trận lũ quét tại làng Nủ, khi nhận thông tin UBND tỉnh Lào Cai phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam huy động nguồn lực xã hội xây dựng khu tái định cư, ông đã chủ động nhắn tin cho lãnh đạo tỉnh đề nghị tham gia thiết kế miễn phí. Ngay hôm sau, tỉnh tổ chức họp trực tuyến giữa Chủ tịch tỉnh, Đài Truyền hình Việt Nam và các chuyên gia thiết kế, xây dựng để bàn công tác chuẩn bị.
Ngay từ đầu, dự án không chỉ đặt mục tiêu xây nhà, mà hướng tới tái thiết một cộng đồng sống hoàn chỉnh, gồm nhà ở, hạ tầng kỹ thuật, trường học, nhà sinh hoạt cộng đồng và định hướng sinh kế ngoài nông nghiệp như du lịch, thủ công, dịch vụ.
Làng Nủ sau khi hoàn thành. Ảnh: Phạm Chiểu
Kiến trúc sinh ra từ sự đồng thuận của cộng đồng
Để lựa chọn địa điểm, tỉnh Lào Cai mời các chuyên gia địa chất khảo sát nhiều vị trí. Một số địa điểm ban đầu bị loại do còn tiềm ẩn nguy cơ sạt lở khi mưa lớn kéo dài. Vị trí cuối cùng được chọn tại đồi sim, địa hình mở, tránh chân núi cao, hạn chế gió lốc, bảo đảm thoát nước tự nhiên và tầm nhìn rộng, yếu tố quan trọng với tâm lý an cư lâu dài của người dân vùng cao.
Trên diện tích khoảng 10 ha, các kiến trúc sư đề xuất tôn trọng địa hình tự nhiên, hạn chế san lấp. Các tuyến giao thông được bố trí nương theo địa hình, điểm giao cắt là những sân nhỏ đồng thời là không gian cộng đồng để ngắm cảnh. Các ngôi nhà tổ hợp trên nhiều cao độ khác nhau, tạo nên sự phong phú. Đường nội bộ chạy theo địa hình làng, bảo đảm thoát nước mặt tự nhiên. Thảm thực vật và đồi sim hiện hữu được giữ lại, tạo tiền đề phát triển du lịch sinh thái sau này.
Thách thức lớn tiếp theo là thiết kế nhà ở vừa có kết cấu bền vững, thi công nhanh, nhưng vẫn giữ được bản sắc và bảo đảm chất lượng sống. KTS Hoàng Thúc Hào cho biết ông mời các kỹ sư kết cấu và chuyên gia vật liệu cùng nghiên cứu giải pháp phù hợp. Chỉ trong một tuần, nhóm thống nhất phương án nhà sàn Tày cải tiến với kết cấu bêtông lắp ghép 2 tầng.
Nhà sàn truyền thống của người Tày vốn làm bằng gỗ, có hành lang bao quanh. Tuy nhiên, nguồn gỗ tự nhiên ngày càng khan hiếm, buộc nhóm thiết kế phải nghiên cứu vật liệu mới, tiếp biến không gian và tinh thần kiến trúc truyền thống. Nhà ở và nhà sinh hoạt cộng đồng tiếp thu bản sắc nhà sàn “con song bốn bức” của người Tày vùng Bảo Yên, Lào Cai. Không gian gồm nhà chính và nhà phụ là bếp, nhà vệ sinh, kết nối với sân vườn trước sau, tổng diện tích mỗi nhà khoảng 850 đến 1000 m2.
Nhà sàn mới kế thừa mái xòe rộng, 3 gian; cầu thang chính đặt bên hông theo quan niệm tâm linh. Tầng dưới là không gian mở, phục vụ sinh hoạt cộng đồng nhỏ, làm thủ công hoặc đón khách du lịch. Tầng trên là không gian ở, với 4 cột cái bằng bêtông thay thế cột gỗ. Khung mái bằng thép được thiết kế theo dáng vì kèo gỗ truyền thống, vừa bảo đảm độ bền, vừa giữ được hình thức quen thuộc của nhà sàn Tày.
Quy trình thiết kế có sự tham gia của người dân là điểm nổi bật của Làng Nủ. Mẫu nhà sàn được trình bày, lấy ý kiến dân bản và điều chỉnh trước khi triển khai đại trà. Trong quá trình thi công, nhiều chi tiết tiếp tục được hoàn thiện theo thói quen sinh hoạt thực tế.
Theo KTS Nguyễn Xuân Ngọc, Phó chủ tịch Công ty CP Kiến trúc Xây dựng quốc tế 1+1>2, công năng ngôi nhà được điều chỉnh theo góp ý của người dân, như đưa bếp về gian phụ, bố trí khu vệ sinh phía sau nhà để thuận tiện sử dụng. Từ ý kiến cộng đồng, không gian làng được tổ chức thành 3 đến 5 xóm nhỏ theo phong tục truyền thống, quây quần theo địa hình tự nhiên. Ở trung tâm là nhà cộng đồng và trường học, nơi tổ chức chợ phiên, sinh hoạt văn hóa, gói bánh chưng ngày Tết.

Các ngôi nhà ở Làng Nủ được sử dụng vật liệu đơn giản, dễ dàng bảo trì, thay thế. Ảnh: Phạm Chiểu
Thi công thần tốc nhưng không đánh đổi bản sắc
Theo KTS Nguyễn Xuân Ngọc, áp lực lớn nhất là tiến độ. Trong thời gian ngắn, nhóm thiết kế phải đưa ra giải pháp thi công nhanh, hiệu quả và lựa chọn vật liệu để người dân có thể dễ dàng bảo trì, thay thế về sau.
Để rút ngắn thời gian, các kỹ sư sáng tạo hệ móng theo nguyên lý rễ cây, với các cấu kiện cắm sâu xuống đất nhằm tăng độ ổn định, giảm chi phí và đẩy nhanh thi công. Nhà sử dụng cột, dầm, panel sàn lắp ghép sản xuất tại nhà máy, vận chuyển đến công trường lắp dựng, đáp ứng kế hoạch thần tốc. Mái dùng vì kèo thép nhẹ, lợp tôn dập vân ngói, vừa bảo đảm thẩm mỹ truyền thống, vừa phù hợp tiến độ và dễ bảo trì.
Các vị trí đầu dầm, vai cột đỡ dầm sàn khai thác đặc điểm kết cấu gỗ, tạo cấu kiện lắp ghép kế thừa nhà sàn truyền thống. Dầm, cột, vì kèo sơn nâu gỗ, không gian và chất liệu tạo cảm giác ấm cúng, thân thiện. Đề xuất ban đầu về sơn giả gỗ được cân nhắc nhưng không lựa chọn vì chi phí bảo trì lâu dài cao, thay vào đó là màu nâu thông thường, dễ bảo dưỡng và tiết kiệm.
KTS Nguyễn Xuân Ngọc cho biết đơn vị đã huy động toàn bộ văn phòng, 15 kiến trúc sư trẻ làm việc liên tục ngày đêm để hoàn thiện bản vẽ. Một số nhân viên cũ cũng tình nguyện tham gia, chung tay cho dự án cộng đồng. Với quy mô tương tự, thông thường thiết kế kéo dài khoảng 2 tháng, nhưng dự án này hoàn thành trong chưa đầy một tháng. Công trình tương tự thường thi công 6 đến 9 tháng, trong khi Làng Nủ chỉ mất chưa đến 3 tháng.
Toàn bộ quá trình diễn ra trong điều kiện vừa thiết kế, vừa sản xuất, vừa thi công. Khi đơn vị san lấp mặt bằng ngoài công trường, các kiến trúc sư đồng thời hoàn thiện bản vẽ chi tiết. Nhiều buổi trưa và tối muộn, các bên vẫn họp trực tuyến để tháo gỡ vướng mắc.

Làng Nủ mới nằm trên một quả đồi với tầm nhìn mở. Ảnh: Phạm Chiểu
KTS Hoàng Thúc Hào cho biết người dân làng Nủ thường xuyên vào thăm công trình, chờ mong ngày trở về nhà mới. Sự kỳ vọng đó khiến đội ngũ thiết kế và thi công càng ý thức rõ trách nhiệm của mình. Sau gần 3 tháng triển khai, công trình hoàn thành ngày 22/12/2024, vượt kế hoạch Chính phủ giao là 31/12/2024.
Ông Trần Trọng Thông, Chủ tịch xã Bảo Yên, nguyên Chủ tịch huyện Bảo Yên, cho biết 37 hộ dân bị mất nhà đã được bố trí vào Làng Nủ mới và sinh sống ổn định đến nay. Người dân đồng thuận với thiết kế, không sửa chữa lại; một số gia đình bố trí thêm bếp củi dưới gầm nhà sàn để sưởi ấm mùa đông. Các công trình cộng đồng như trường học, nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng được sử dụng thường xuyên.
Hội đồng Giải thưởng Kiến trúc quốc gia đánh giá Làng Nủ là đồ án kiến trúc xã hội tiêu biểu, giải quyết bài toán tái định cư sau thiên tai trong thời gian kỷ lục, giữ gìn bản sắc kiến trúc Tày trong điều kiện vật liệu hiện đại, đồng thời hài hòa với cảnh quan và đời sống cộng đồng.
Đoàn Loan